80 năm Ngoại giao Việt Nam CHẶNG ĐƯỜNG BẢN LĨNH VÀ ĐẦY DẤU ẤN
80 năm trước, ngành Ngoại giao Việt Nam vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo, đặt nền móng từ những ngày đầu độc lập, trên cương vị là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đầu tiên.

Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris, ngày 27/1/1973.Ảnh tư liệu
Trên nền tảng kế thừa truyền thống ngoại giao của dân tộc trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, ngành Ngoại giao đã có những đóng góp quan trọng, xứng đáng vào những thành tựu lịch sử của đất nước. Đó là khẳng định của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngoại giao Việt Nam.
Vai trò thiết yếu trong công cuộc xây dựng đất nước
Điểm lại những mốc son trong chặng đường đó, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn nhận định, trong suốt quá trình đấu tranh thống nhất đất nước, cùng với quân sự và chính trị, ngoại giao là một mặt trận chiến lược, cụ thể hóa thắng lợi trên chiến trường thành thắng lợi trên bàn đàm phán.
Các hiệp định như Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946), Tạm ước (14/9/1946), Hiệp định Geneva 1954 và Hiệp định Paris 1973 là những mốc son chói lọi của ngoại giao cách mạng, góp phần quyết định vào Chiến thắng mùa Xuân năm 1975, mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất, phát triển cho dân tộc.
Sau ngày thống nhất, Ngoại giao Việt Nam có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng hòa bình, mở rộng quan hệ đối ngoại theo đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa vì hòa bình, hợp tác và phát triển.
Cho đến nay, ngoại giao đã góp phần đưa đất nước hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, điển hình là gia nhập Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… và ký kết hơn 500 hiệp định quốc tế, trong đó có 17 hiệp định thương mại tự do với hơn 60 nền kinh tế hàng đầu thế giới. Trong đại dịch Covid-19, ngoại giao vaccine là minh chứng tiêu biểu cho khả năng thích ứng linh hoạt và sáng tạo của Ngoại giao Việt Nam.
Cũng với tinh thần đó, Đại sứ Nguyễn Dy Niên, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chia sẻ, đối với ông niềm tự hào lớn nhất, độc đáo nhất là ngành Ngoại giao Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và chính Người là vị “tư lệnh” đầu tiên của ngành. Đại sứ, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đồng thời bày tỏ niềm tự hào khi nhắc về vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế hiện nay. "Thời điểm này là cơ hội vàng để Ngoại giao Việt Nam phát huy năng lực tiềm tàng. Cho đến nay, với 12 Đối tác chiến lược toàn diện; hàng chục Đối tác chiến lược, Đối tác toàn diện với nhiều nước khác, có thể nói vị thế của Việt Nam trên thế giới rất cao và rất vững"- Đại sứ, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên khẳng định.
Dấu ấn đặc thù
Theo Đại sứ Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội nhìn nhận, hành trình ra thế giới để tìm con đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mang lại dấu ấn Việt Nam đặc thù cho ngoại giao nước ta.
Đó là đi để tìm hiểu thế giới, đặc biệt là chính thể và xã hội của mỗi nước để kết hợp nội lực với ngoại lực, tập hợp lực lượng, từ đó củng cố và nâng “Thế” và “Lực” của Việt Nam trong đấu tranh giành lại độc lập trước đây và công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Nét nổi bật đó sau này trở thành vai trò đặc thù của Ngoại giao Việt Nam trong tổng thể sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất và phát triển đất nước. Điểm lại những dấu mốc quan trọng trên con đường hội nhập quốc tế, nữ Đại sứ khẳng định, trưởng thành trong phát huy trí tuệ, sự chủ động, cùng với quá trình chuyên nghiệp hóa lực lượng đã góp phần nâng cao sức mạnh mềm của đất nước.
Bên cạnh đó, qua nhiều thập kỷ từ khi chính thức gia nhập Liên Hợp quốc, Ngoại giao Việt Nam cũng đã thể hiện sự bài bản, khéo léo, hiệu quả trong kết hợp khuôn khổ ngoại giao đa phương và song phương cũng như các kênh ngoại giao cùng những bình diện khác nhau (chính trị, kinh tế - thương mại, văn hóa và truyền thông).
Ở khía cạnh khác, Đại sứ Nguyễn Phương Nga, nguyên Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đề cập đến kênh đối ngoại Nhân dân với dấu ấn sáng tạo độc đáo, là vốn quý của đối ngoại Việt Nam, kế thừa tư tưởng “dân là gốc” và truyền thống yêu nước, độc lập, tự chủ, ngoại giao “tâm công”, chính nghĩa, hòa hiếu, nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là một nội dung quan trọng của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
Bản lĩnh tiếp tục được phát huy trong thời kỳ mới
Nhìn lại hơn một thế kỷ từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm con đường cứu nước đến nay, Đại sứ Tôn Nữ Thị Ninh nhấn mạnh, ngành Ngoại giao đang phải tiếp tục tham mưu đúng đắn và kịp thời, góp phần xác định nguy cơ, trở ngại cũng như nêu bật và tranh thủ phát huy thời cơ - tạo cục diện đối ngoại tối ưu cho sự vươn lên của Việt Nam trong thời kỳ mới. “Hành trình hội nhập quốc tế và khu vực một cách chủ động, bản lĩnh, bài bản, cân nhắc bối cảnh, lợi ích, tương quan các bên, cùng với việc tham gia hàng loạt hiệp định thương mại đa phương cho thấy
Việt Nam trong thời bình đã vươn lên, vừa phát triển kinh tế thương mại, vừa bảo đảm chủ quyền quốc gia, là minh chứng cho bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam tiếp tục được phát huy trong thời kỳ mới”- Đại sứ Tôn Nữ Thị Ninh khẳng định.
Đề cập chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc ngoại giao thời đại mới phải đáp ứng yêu cầu “gắn kết chặt chẽ đối ngoại với lòng dân”, “gắn kết đất nước với thế giới, dân tộc với thời đại”- Đại sứ Nguyễn Phương Nga tin tưởng, đối ngoại Nhân dân sẽ phát huy được thế mạnh gắn kết con người, xây dựng nền tảng xã hội thuận lợi đưa quan hệ giữa các quốc gia đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, huy động nguồn lực quốc tế, sự đoàn kết, ủng hộ mạnh mẽ của Nhân dân thế giới.
Trụ cột ngoại giao kinh tế
Theo Phó Vụ trưởng Vụ Ngoại giao Kinh tế (Bộ Ngoại giao) Luyện Minh Hồng, trong suốt hành trình 80 năm hình thành và phát triển, ngoại giao kinh tế luôn giữ vai trò trụ cột trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế trọng yếu của đất nước. Với phương châm lấy địa phương, DN và người dân là trung tâm phục vụ, lấy lợi ích dân tộc là kim chỉ nam, công tác ngoại giao kinh tế đã được triển khai bài bản, toàn diện ở tất cả các cấp, lĩnh vực, thị trường song phương và đa phương, đạt nhiều kết quả thực chất có ý nghĩa quan trọng.
Theo Phó Vụ trưởng Vụ Ngoại giao Kinh tế, kết quả có được là nhờ sức mạnh từ sự đồng thuận cao của cả hệ thống chính trị, từ đối ngoại Đảng, Ngoại giao Nhà nước đến đối ngoại Nhân dân, từ cấp độ ngành địa phương, DN trong nước đến các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Tất cả đã tạo nên một mặt trận ngoại giao kinh tế thống nhất và hiệu quả. Trong bối cảnh thế giới đang biến động sâu sắc, với cả thách thức và cơ hội đan xen, bà Luyện Minh Hồng khẳng định, ngoại giao kinh tế đặt mục tiêu tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu và tham mưu chính sách, bám sát thực tiễn và phản ánh kịp thời “hơi thở” của nền kinh tế đổi mới các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, xuất khẩu, du lịch thông qua đa dạng hóa thị trường, sản phẩm và chuỗi cung ứng.
Bên cạnh đó, cần gắn kết ngoại giao kinh tế với hội nhập quốc tế, chủ động tham gia định hình luật chơi toàn cầu trong các lĩnh vực chiến lược. Đặc biệt là thúc đẩy những động lực tăng trưởng mới, trong đó có khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.q