42 quyết sách mở đường, TP.HCM phải biến cơ chế thành nguồn lực
Các quyết sách trải rộng từ thể chế, đất đai đến hạ tầng, an sinh. Phía sau quyết sách là câu hỏi quan trọng: TP.HCM sẽ biến cơ chế thành nguồn lực và kết quả ra sao?

Kỳ họp thứ 4 HĐND TP.HCM khóa XI vừa thông qua 42 nghị quyết, gồm 16 nghị quyết quy phạm pháp luật và 26 nghị quyết cá biệt. Các quyết sách trải rộng từ an sinh, y tế, văn hóa đến thể chế, đất đai, đầu tư và hạ tầng giao thông.
Nhìn riêng từng nghị quyết, đây là những quyết định giải quyết các vấn đề cụ thể. Nhưng đặt toàn bộ 42 nghị quyết trong một bức tranh chung, có thể thấy một chuyển động lớn hơn: TP.HCM đang đứng trước giai đoạn chuyển từ được trao thêm cơ chế sang phải chứng minh năng lực thực thi, biến cơ chế thành nguồn lực và kết quả cho sự phát triển.
Mở đường cho chuỗi quyết định mới
Điểm đáng chú ý của kỳ họp không chỉ nằm ở con số 42 nghị quyết, mà ở những gì nằm phía sau con số đó.
Luật Phát triển đô thị vừa được Quốc hội thông qua đã mở thêm không gian để TP.HCM chủ động xây dựng, ban hành các quy định phù hợp yêu cầu phát triển.
Vì thế, tại kỳ họp này, HĐND TP.HCM đã thông qua Nghị quyết quy định việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thi hành Luật Phát triển đô thị trên địa bàn.

Kỳ họp thứ 4 HĐND TP.HCM khóa XI vừa thông qua 42 nghị quyết, gồm 16 nghị quyết quy phạm pháp luật và 26 nghị quyết cá biệt. Ảnh: Phan Anh.
Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM Nguyễn Thị Hồng Hạnh cho biết qua rà soát, có khoảng 240 nội dung cần triển khai, được cụ thể hóa trong 186 văn bản, gồm nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND và quyết định của Chủ tịch UBND TP.HCM.
Đại biểu HĐND Nguyễn Trần Phượng Trân nhìn nhận luật đã trao thêm nhiều thẩm quyền cho TP.HCM, trong đó có việc ban hành nghị quyết quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết một số thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa, ứng dụng khoa học - công nghệ.
Khoảng cách để cơ hội thành kết quả chỉ trông cậy có một điều duy nhất, đó là năng lực thực thi", Bí thư Thành ủy TP.HCM Trần Lưu Quang nhấn mạnh tại hội nghị quán triệt tinh thần thực hiện Luật Phát triển đô thị hôm 26/8.
Vì vậy, các văn bản hướng dẫn cần được xây dựng theo hướng dễ tiếp cận, dễ thực hiện đối với cơ quan, đơn vị, người dân và doanh nghiệp.
Song song đó, UBND TP.HCM và các sở, ngành sớm nghiên cứu, trình HĐND ban hành những văn bản thuộc thẩm quyền để kịp triển khai khi luật có hiệu lực từ ngày 1/10.
Liên quan vấn đề này, Chủ tịch HĐND TP.HCM Võ Văn Minh cho hay cuối tháng 9 tới, HĐND thành phố dự kiến tổ chức kỳ họp chuyên đề xem xét khoảng 70 nghị quyết nhằm cụ thể hóa Luật Phát triển đô thị và đưa các cơ chế, chính sách vào thực tiễn.
Nói cách khác, kỳ họp vừa qua không phải điểm kết thúc của một đợt làm chính sách, mà là bước mở đầu cho chuỗi quyết định có thể định hình cách TP.HCM vận hành trong giai đoạn mới.
Từ bài toán nguồn vốn đến năng lực thi hành
Nếu nghị quyết về thể chế mở không gian chính sách, loạt quyết sách về hạ tầng cho thấy TP.HCM đang tìm cách huy động nhiều nguồn lực để đầu tư, mở rộng không gian phát triển và thay đổi bộ mặt giao thông, đô thị sau khi mở rộng địa giới.
Tại kỳ họp, HĐND TP.HCM thông qua nhiều dự án với quy mô vốn lớn. Cầu Phú Mỹ 2 theo hợp đồng BT có tổng nhu cầu thanh toán gần 21.900 tỷ đồng. Tuyến đường Võ Văn Kiệt nối dài đến Tây Ninh có tổng vốn 15.975 tỷ đồng, dài 15,1 km, quy mô 6 làn xe. Dự án cải tạo rạch Thủ Đức có tổng mức đầu tư khoảng 5.124 tỷ đồng.
Cùng đó, thành phố điều chỉnh, đầu tư hơn 11.700 tỷ đồng cho 2 tuyến đường Nguyễn Thị Tú, Tỉnh lộ 9 (Hà Duy Phiên); bổ sung 2 khu đất tại 79B Lý Thường Kiệt và 257 Trần Hưng Đạo để thanh toán hợp đồng BT của dự án chống ngập 10.000 tỷ đồng. Dự án chỉnh trang đô thị khu vực rạch Ông Lớn, kênh Hàng Bàng cũng được thông qua…
Điểm đáng chú ý là thành phố không chỉ dựa vào một nguồn vốn. Bên cạnh ngân sách, TP.HCM đang khai thác quỹ đất để thanh toán hợp đồng BT. Điều này cho thấy hướng tiếp cận rõ hơn trong đầu tư hạ tầng, thành phố không chỉ tìm nguồn vốn để làm công trình, mà tìm cách tổ chức và khai thác nhiều nguồn lực để tạo ra mạng lưới hạ tầng đồng bộ, liên vùng.
Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được cho biết sau khi mở rộng địa giới hành chính từ tháng 7/2025, thành phố nằm trong không gian kết nối rộng hơn với Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Vành đai 2, Vành đai 3, Vành đai 4, Quốc lộ 1, Quốc lộ 13, Quốc lộ 22, Võ Văn Kiệt nối dài và hệ thống đường sắt đô thị được đặt trong mạng lưới liên kết vùng.
Thành phố cũng đang nghiên cứu quy hoạch đường Vành đai 5 để tăng cường kết nối, mở rộng không gian phát triển. Lãnh đạo UBND thành phố cho rằng cần ưu tiên nguồn vốn để cơ bản hoàn thành mạng lưới giao thông ngay trong nhiệm kỳ này.
Nhưng ngân sách không thể đáp ứng tất cả nhu cầu. Thành phố vì vậy tính đến nhiều nguồn lực khác như đấu giá quỹ đất công, mở rộng hình thức BT (xây dựng - chuyển giao), BOT (xây dựng - kinh doanh - chuyển giao) để sớm đầu tư hệ thống giao thông hiện đại, giúp thành phố phát triển nhanh và bền vững.
Từ đây cũng đặt yêu cầu đặt ra không chỉ là cân đối được nguồn lực mà còn là năng lực thực hiện dự án và đưa vào vận hành đúng tiến độ.

Khởi công năm 2016 với tổng vốn đầu tư ban đầu gần 10.000 tỷ đồng theo hình thức BT, theo kế hoạch dự án hoàn thành năm 2018. Tuy nhiên, công trình nhiều lần đình trệ do không đồng nhất về phương án thanh toán giữa nhà đầu tư và thành phố. Ảnh: Hoài Bảo.
Nhìn lại dự án giải quyết ngập do triều khu vực TP.HCM có xét yếu tố biến đổi khí hậu (giai đoạn 1), cho thấy bài toán của hạ tầng không dừng ở việc bố trí được nguồn vốn hay thông qua dự án, mà còn nằm ở khả năng đưa công trình về đích và phát huy hiệu quả.
Thời gian qua, dự án phát sinh nhiều vướng mắc, kéo dài thời gian thực hiện và thanh toán cho nhà đầu tư, nên vẫn chưa thể về đích dù đạt hơn 90% khối lượng.
Đại biểu HĐND Trần Thành Trọng lưu ý cần đánh giá, kiểm định lại chất lượng các thiết bị đã lắp đặt từ nhiều năm trước, đặc biệt là thiết bị điện ngoài trời có khả năng hao mòn. Việc đánh giá lại cũng giúp thành phố có nhận định tổng quan về khả năng vận hành, phục vụ người dân lâu dài của công trình.
Chi tiết này tưởng kỹ thuật nhưng lại gợi ra vấn đề lớn hơn về quản trị đầu tư công: một dự án chỉ thực sự hoàn thành khi có thể vận hành an toàn, ổn định và tạo ra giá trị lâu dài cho người dân.
Nói cách khác, “giải ngân”, “thi công xong” chưa thể là thước đo cuối cùng. Thước đo cuối cùng phải là công trình có giải quyết được vấn đề mà nó được đầu tư để giải quyết hay không và hiệu quả thực tế thế nào.
Đặt con người làm trung tâm phát triển
Không phải tất cả nghị quyết đều mang tầm vóc của những dự án hàng nghìn tỷ đồng.
Chính sách đặc thù hỗ trợ 100% học phí bác sĩ nội trú, tối đa 100 triệu đồng/người/năm học, kèm hỗ trợ sinh hoạt hàng tháng bằng 2 lần mức lương tối thiểu vùng I do Chính phủ quy định (10,62 triệu đồng/tháng) đối với chuyên ngành khó thu hút, là một ví dụ. TP.HCM dự kiến lựa chọn 400 bác sĩ mỗi năm, tổng kinh phí tối đa hơn 50 tỷ đồng.
Về quy mô ngân sách, đây không phải khoản chi lớn nếu đặt cạnh các dự án hạ tầng. Nhưng xét về chất lượng tăng trưởng, đây lại là khoản đầu tư vào nguồn nhân lực dài hạn.




Một TP.HCM không ngừng phát triển, đặt con người làm trung tâm. Ảnh: Quỳnh Danh.
Tương tự, việc HĐND TP.HCM thống nhất mức lương tổng giám đốc Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM từ 450 đến 850 triệu đồng/tháng, cùng tiền lương đối với nhân sự làm việc tại cơ quan này, với ngân sách khoảng 100 tỷ đồng/năm, cho thấy địa phương đang thiết kế những cơ chế khác với cách tiếp cận thông thường để vận hành các mô hình mới.
Ở chiều khác, chính sách phí tham quan bảo tàng, di tích với mức 20.000 - 60.000 đồng/lượt; đồng thời miễn phí cho trẻ em, học sinh, sinh viên, người khuyết tật đặc biệt nặng và người thuộc hộ nghèo, cận nghèo; giảm 50% đối với một số trường hợp khác, cho thấy hướng tiếp cận khác: chính sách phát triển không chỉ được đo bằng quy mô đầu tư mà còn bằng khả năng mở rộng cơ hội tiếp cận của người dân.
42 nghị quyết thông qua tại kỳ họp không tạo thành một danh mục rời rạc. Chúng phản ánh nhiều lớp nhu cầu của một đô thị đang mở rộng không gian phát triển: cần thể chế để tháo gỡ, cần hạ tầng để kết nối, cần nhân lực để vận hành và cần chính sách xã hội để bảo đảm người dân cùng hưởng lợi từ quá trình phát triển.
